NHO GIÁO

 1- Khổng-tử (551-479 tr. TL)


  Thời đại Khổng tử


Khổng tử sinh vào thời Xuân thu (772-481 tr. TL), là thời rối loạn nhất trong lịch sử Trung Hoa. Các vua chư hầu có chừng một trăm nước, nhưng đến thời Chiến quốc (481-221 tr. TL) chỉ còn lại bảy nước là Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề và Tần.

Trong các thời nầy, bắt đầu có sự biến chuyển lớn về kinh tế và xã hội. Sắt bắt đầu được dùng thay cho đồng, nông công nghiệp phát triển, thương nghiệp mở mang và một giai cấp mới xuất hiện là giai cấp đại thương gia. Những cuộc chính biến làm đảo lộn giai tầng xã hội, nhiều quí tộc bị giáng làm thứ dân, trong khi những nhà buôn nhờ giàu có mà có thế lực chính trị, nhiều kẻ áo vải nhờ tài hùng biện mà trở thành khanh tướng.

Chính ở đây ta tìm thấy nguyên nhân hưng thịnh học thuật chư tử bách gia trong đó có một số đông các du sĩ, thuyết khách đua nhau tranh luận, mong được chọn làm cố vấn cho các vua chư hầu trong việc trị nước an dân.
Khổng-tử là một trong những vị sau nầy, học thuyết của ông, mệnh danh là Khổng Nho hay Nho giáo, mặc dù không được vua nào thời ấy dùng đến lâu dài, nhưng đã gây ảnh hưởng cực kỳ lớn rộng khắp Trung quốc suốt mấy ngàn năm cho đến nay. Từ ‘nho’ vốn nghĩa là ‘cần thiết’, thời Xuân Thu dùng từ ấy để chỉ người thông hiểu đạo thánh hiền, biết được lẽ trời đất và nhân sự, chỉ người học rộng biết nhiều, mà khi quốc gia cần đển, có thể đem tài trí của mình ra gánh vác.

Vì các vua chư hầu thời ấy đua nhau tìm người tài giỏi giúp cho nước mình cường thịnh hơn các nước khác, để chiếm quyền bá chủ, nên các nhà Nho thường có dịp tranh luận với các vua để mong được vua thu dùng.  Đây là thời hoàng kim của văn hóa, của triết học Trung quốc, các nhà tư tưởng được tự do bày tỏ, tranh đấu cho học thuyết của mình. Người thì đề xướng dùng đức nhân đễ cai trị, người thì đề xướng dùng nhân nghĩa theo vương đạo, người thì chủ trương kiêm ái (thương tất cả mọi người)… hầu hết được các vua chư hầu thời bấy giờ chịu khó nghe, nhưng cuối cùng không vua nào thu dụng, Trừ học thuyết Pháp gia của Hàn Phi tử sau nầy được Tần Thủy hoàng dùng để thống nhất Trung quốc và dựa vào bạo lực để cai trị, củng cố uy quyền của mình trong một thời gian.

Tiểu sử Khổng-tử

Khổng-tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, sinh năm 21 đời Chu Linh vương (551 trước Tây lịch), qua đời năm thứ 41, đời vua Chu Kinh vương (479 trước Tây Lịch).

Khổng-tử dòng dõi người nước Tống (Hà nam), ông tổ ba đời dời sang ở nước Lỗ (Sơn đông). Thân phụ là Thúc Lương Ngột, làm quan võ, lấy vợ trước sinh được 9 người con gái, người vộ lẽ sinh được một trai, nhưng lại có tật què chân. Đến lúc về già mới lấy Nhan thị sinh ra Khổng tử vào năm 551 trước Tây lịch. Nhan thị có lên cầu tự trên núi Ni Khâu, nên sinh Khổng-tử đặt tên Khâu, tự là Trọng Ni. Năm 19 tuổi lập gia đình, rồi ra nhận chức Ủy lại, coi việc gạt thóc ở kho, sau lại làm Tư chức lại, coi việc nuôi bò dê để dùng trong việc cúng tế. Tuy còn trẻ tuổi nhưng đã nổi tiếng là người giỏi, một vị quan nước Lỗ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theo học lễ.

Năm 28, 29 tuổi Khổng-tử muốn đến học ở Lạc Ấp thuộc kinh sư nhà Chu, để nghiên cứu về lễ nghi, phép tắc của các đế vương, nhưng đường xa, lộ phí nặng, không đi được. Học trò là Nam Cung  Quát đem việc ấy tâu lên vua nước Lỗ, Lỗ hầu cấp cho một cỗ xe hai ngựa và những người hầu hạ đưa ông đi. Ở Lạc ấp có nhà Minh đường của Chu công lập ra chứa những luật lệ và bảo vật cùng các hình tượng của thánh hiền đời trước. Khổng-tử đến đấy khảo cứu mọi việc quan hệ đến tế lễ.
Sau khi ở Lạc Ấp về, học trò ông càng đông, nhưng vua nước Lỗ vẫn chưa dùng ông. Gặp lúc có loạn, ông bỏ sang nước Tề, vua Tề đón ông đến hỏi việc chính trị, rất vừa ý muốn lấy đất Ni Khê ban cho, nhưng đại phu Yến Anh can ngăn. Khổng-tử về lại Lỗ, dạy học trò và suy xét tường tận cái đạo của thánh hiền đời trước.   Năm 51 tuổi, Khổng tử được vua nước Lỗ dùng làm quan Trung đô tể (phó tỉnh trưởng kinh thành), rồi Đại tư khấu (Thượng thư bộ Tư Pháp),

Khổng tử đặt luật lệ cứu giúp kẻ nghèo khó, lập ra phép tắc, người đi đường không nhặt của rơi. Bốn năm sau, vua Lỗ cho Khổng tử quyền nhiếp chính trị trong nước. Cầm quyền được bảy ngày, Khổng-tử giết Thiếu Chính Mão là người xảo quyệt gian hiểm thời bấy giờ. Nước Tề không muốn nước Lỗ thịnh, liền lập mưu đem 80 gái đẹp và 30 ngựa tốt đến bày ở cửa Nam thành nước Lỗ, để dâng cho Lỗ hầu. Lổ hầu say mê ba ngày bỏ không thiết triều. Khổng-tử nhân dịp lễ tế Giao, vua không chia thịt cho các quan, liền từ chức, đi sang nước Yên. Vì biết vua không muốn dùng mình, nên Khổng tử nhân một cớ nhỏ mà bỏ đi, để cho khỏi lộ điều dở của vua, chứ không phải vì miếng thịt.

Suốt 13 năm chu du khấp nơi cầu xuất chính để thực hiện học thuyết của mình, Khổng tử vẫn chưa gặp được nơi có thể hành đạo lâu dài, hoặc vua không thấy được tài của ông, hoặc cũng muốn dùng nhưng lại không biết giữ lễ, hoặc bị các quan đại phu cản ngăn, lại có người muốn giết mình, nên Khổng tử trở về Lỗ, đã 68 tuổi, ở nhà dạy học, san định lại các sách vở đời trước .

Các sách căn bản của Nho giáo

Nhờ những sách ấy, như tứ thư và ngũ kinh (lượt kê dưới đây) người đời sau biết được học thuyết của Nho giáo :
Tứ thư  (4 quyển sách do môn đệ của Khổng tử soạn ra), gồm có :

1- Luận ngữ  (do các môn đệ sưu tập các câu nói của Khổng-tử dạy về đạo làm nguời)
2- Đại học  (do thầy Tăng-tử dẫn lời của Khổng-tử dạy về đạo người quân tử).
3- Trung dung (do Tử Tư, cháu của Khổng-tử, ghi lại lời của Khổng tử dạy về thuyết ‘chừng mực’)
4- Mạnh tử (do Mạnh tử  ghi lại những lời đối đáp của mình với các vua hay với học trò)

Ngũ kinh (5 quyển sách do chính Khổng-tử sưu tầm, san định viết ra) gồm có :

1-  Kinh Dịch (do Không-tử san định giải thích lẽ biến hóa, sự vận hành của muôn vật).
2-Kinh Thi   (do Khổng-tử sưu tầm câu hát, ca dao của dân gian thời trước).
3-Kinh Thư  (do Khổng-tử sưu tầm các công văn của vua chúa thời xưa).
4-Kinh Lễ   (do Khổng-tử san định lại lễ tục các đời vua ngày xưa).
5-Kinh Xuân Thu (do Khổng-tử soạn chép lại sử nước Lỗ, đề cao chính sách nhà Chu).
Khổng tử còn sưu tầm về Nhạc thời xưa, nhưng Kinh Nhạc ấy hiện nay bị thất lạc.

Khổng-tử cho rằng mình ‘thuật nhi bất tác’ (tức là thuật lại, san định lại những điều mình đã đọc, đã học được của người xưa, chứ không phải tự mình sáng tác ra) : KinhThi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc là do ông san định,  Kinh Xuân Thu là căn cứ vào sách Sử ký nước Lỗ, mà chép lại để thêm vài lời phê bình. Kinh Dịch cũng căn cứ  vào quyển Chu Dịch mà bàn rộng thêm.

Còn các sách Đại Học, Trung Dung do Tăng-tử là học trò và Tử Tư là cháu của Không-tử chép lại các lời Khổng-tử. Luận ngữ và Mạnh-tử  là hai tác phẩm không do Khổng-tử trựĩc tiếp sọan ra, nhưng được coi như tiêu biểu cho hai mặt của Nho giáo bổ túc cho nhau : Luận ngữ đưa ra những đề nghị sửa đổi, ‘nhân bản hóa’ các thể chế quân chủ phong kiến mục nát thời bấy giờ, còn sách Mạnh- tử tranh đấu cho một thể chế mới cũng quân chủ mà trong tinh thần dân vi quí. Do đó, nghiên cứu về Nho giáo chúng ta cần phải nghiền ngẫm đủ cả hai tác phẩm mới gọi là thấu đáo.
Ngoài ra còn rất nhiều sách, tuy nói là của Khổng-tử viết, song thật ra là do người sau gán cho.

  2. Học thuyết của Khổng-tử
.
Thường được phân thành hai phần : Hình nhi hạ (trong thế giới hình hài) và Hình nhi thượng (siêu hình – métaphysique).

HÌNH  NHI  HẠ

Trong phạm vi hình nhi hạ, Khổng-tử dạy một nghệ thuật sống, một khôn ngoan xây dựng trên truyền thống cao thượng, thiên hẳn về tính chất thế tục và nhân bản. Có lẽ ông là người đầu tiên đã tổ chức một nền tư thục rộng lớn đón nhận sinh viên trong mọi từng lớp, không chút kỳ thị về giai cấp xã hội. Nhất là qua các triều đại, Khổng giáo không bị áp đặt bằng vũ lực, mà được cưỡng đặt qua hệ thống giáo dục. Đó là nét độc đáo và tầm quan trọng của nền giáo dục nầy : biết gợi lên một tinh thần mới trong truyền thống cũ đang suy đồi và gieo nó vào một phần đông giới trí thức, tạo thành những nhà Nho có đủ uy tín để duy trì giá trị tinh thần của Đức Thầy, đến mức các vị vua sáng lập các triều đại sau nầy thấy cần phải đem ra áp dụng.

Học thuyết của Khổng-tử phần lớn được trình bày trong Luận ngữ. Các môn đệ của Khổng-tử đã ghi lại những lời nói của sư phụ trong những hoàn cảnh trong các cuộc thảo luận khác nhau. Ta có thể nhận thấy trong Luận ngữ hai đặc tính chính tư tưởng trong thái độ của Khổng-tử đối với học thuyết nhân bản và với vấn để tôn giáo .

1- TÍNH CHẤT NHÂN BẢN của học thuyết Khổng Nho thể hiện trong đức Nhân, là đức tính nhờ đó loài người có thể sống chung với nhau trong xã hội.

a- Nhân là lý tưởng tuyệt đích của Nho giáo.

Từ xưa đã có chữ Nhân, nhưng chữ Nhân theo quan niệm của Khổng-tử thì có một giá trị thật cao, rất cao đến nổi ông nhận thấy không có được trong ai cả, ngay cả chính ông cũng không thể có. Cho nên dù Khổng-tử nói đến Nhân rất nhiều lần, nhưng ông từ chối không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, vì e rằng như thế sẽ hạn chế không diễn tả cho đầy đủ được thế nào là Nhân. Môn đệ có hỏi, thì Không-tử chỉ trả lời định nghĩa tùy theo trình độ hiểu biết của mỗi người mà thôi. Có khi dựa vào cách thể hiện mà định nghĩa đức Nhân là : ‘Khắc kỷ, phục lễ vi nhân’, nhân là chế thắng lòng tư dục và vọng niệm của mình và trở về Lễ, tức là trở về các tiêu chuẩn hợp lý của cách cư xử, cụ thể như không nhìn, không nghe, không nói, không làm điều gì trái với tiêu chuẩn. (LN, XII Nhan Uyên, t.1). Hoặc ở chỗ khác, Khổng-tử định nghĩa bằng cách trình bày đối tượng của đức Nhân: ‘Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân’, những điều mình không muốn có thì chớ làm cho người (LN, XII Nhan Uyên, t.2). Và cũng có một định nghĩa tương đối tổng quát hơn : ‘Nhân là thương người’ (LN, XII Nhan Uyên, t.21), vân vân…

Sách Trung Dung định nghĩa : ‘Nhân giả, nhân dã’ nghĩa là : Kẻ có lý tưởng nhân đạo (mới xứng danh) là người. Ngày nay, Thái Nguyên Bồi, tác giả Trung quốc Luân lý, cho rằng : ‘Cái Nhân mà Khổng tử muốn nói đó, tức là cái danh thống nhiếp mọi đức tính và hoàn thành nhân cách vậy. Nói như vậy rất đúng’.

Ngoài ra, Khổng-tử còn nhấn mạnh rằng có lòng Nhân, thương người, nhưng phải có trí, cho đúng với tiêu chuẩn cư xử, phải chế ngự sự bồng bột đột xuất : ‘Nên lấy điều ân đức mà đáp lại điều ân đức ; nên lấy sự chính trực mà đáp lấy sự oán nghịch’ (LN XIV Hiến văn, t.36) đáp lại việc ác,vì nếu đối xử vôi người lương thiện ngang với kẻ bất lương thì không hợp lý công bình chút nào’.

b- Quân tử là một kẻ sĩ kiểu mẫu đã tròn một phần đức Nhân.

Sách Đại học tóm tắt học thuyết chính trị và luân lý nhân bản của Khổng giáo, đề ra danh từ ‘quân tử’  để chỉ một kiểu mẫu làm người. Quân tử là kẻ sĩ, là người có nhân cách cao thượng  (tức là có đạo đức) và tròn một phần nhân đạo (lòng nhân). Khi thầy Tử Lộ hỏi thế nào gọi là kẻ sĩ, Khổng-tử đã phân hạng như sau: ‘Trước hết, người mà trong mọi cử chỉ và hành động của mình biết liêm sỉ, biết xấu hổ, khi đi sứ ở các nước trong bốn phương, không làm nhục mệnh lệnh vua giao phó cho mình, như vậy có thể gọi là kẻ sĩ. Thứ đến là người mà họ hàng khen là có hiếu với cha mẹ, làng xóm khen là biết kính nhường, thuận thảo với anh em, bạn bè. Cuối cùng là người nói ra thì giữ lời, làm việc thì quả quyết, tuy như thế là sang sác chấp nhất, song cũng có thể sắp vào bậc kẻ sĩ thứ ba’. (LN XIII, Tử Lộ, t.20)

Vậy người quân-tử là một kẻ sĩ  có lý tưởng đạt đến Minh đức, Tân dân, Chỉ ư chí thiện, nghĩa là : Làm cho sáng tỏ đức hạnh, Làm cho dân được tân tiến và Dừng lại nơi Chí Thiện (perfection). Muốn đạt đến Chí Thiện phải qua 8 giai đoạn : Cách vật (biết rộng), trí tri (biết đến nơi đến chốn), thành ý (thành thật trong ý chí), chánh tâm (lòng ngay thẳng), để tu thân (sửa mình).  Một khi Tu thân  được rồi mới tề gia (yên hòa trong gia đình), có tề gia được rồi mới trị  quốc, có trị quốc được rồi mới  bình thiên hạ. Từ thiên tử đến thứ dân ai cũng phải lấy việc tu thân làm gốc.

c- Trung Dung.

Sách Trung Dung của Tử Tư dẫn lời Khổng-tử rằng : ‘Duy người quân-tử trung dung, còn người tiểu nhân thì trái với trung dung.’ Trung là chừng mực, không thái quá, không bất cập, tùy thời mà hành động. Dung là ‘thường’, cũng có nghĩa là ‘dùng’. Đúng với đạo lý ,mà thường thường dùng được luôn gọi là ‘dung’. Để thực hiện chữ ‘trung’ chỉ cần suy kỷ cập nhân (suy mình mà biết được người), chỉ cần trung thứ (suy vào sâu bên trong, và cả bên ngoài) 5 mà thôi. Tuy nhiên biết trung cho hợp lẽ thì cũng rất khó. Bậc hiển nhân vị tất đã theo nổi.
Sách Trung Dung theo người xưa là do cháu nội của Khổng-tử là Tử Tư viết, nhưng ngày nay các nhà học giả cho rằng chỉ phần giữa của sách do Tử Tư viết, còn hai phần đầu và cuối do môn đệ của Mạnh-tử viết thêm vào. Đoạn đầu sách nói về mệnh, tính, đạo; đoạn cuối sách nói về đức ‘thành’. Cả hai đoạn đó có tư tưởng thần bí, siêu hình hợp vối tư tưởng của thầy Mạnh hơn.

d- Xuất xử, tùy thời.

Trong việc xuất xử ngày xưa, kẻ sĩ thường phải chọn giữa hai con đường liên hệ với hai hoàn cảnh khác nhau: “Bang hữu đạo’ là nước (vua) có đạo đức, thiên hạ thái bình và ‘Bang vô đạo’ là nước (vua) không có đạo đức, thiên hạ loạn lạc. Bang hữu đạo thiên hạ tranh nhau ra làm quan là thường tình, nhưng bang vô đạo mà ra làm quan là một nan đề rất phức tạp, Khổng-tử phân ra nhiều trường hợp  để trình bày:

Bang vô đạo ra làm quan để cầu lợi danh.
Khổng-tử nói : ‘Nếu cuối cùng, đã tin thật  và ham học đạo lý, thì thà chịu chết để giữ tròn đạo lý, tiết nghĩa của mình. Còn nước loạn lạc mà mình hưởng phần giàu có, sang trọng, đó là điều đáng xấu hổ’. (LN, VII Thái Bá t.14).
Đáp lời Nguyễn Tư Hiến, Khổng-tử xác nhận thêm một cách dứt khoát: ‘Bang hữu đạo thì ra làm quan mà ăn lương. Bang vô đạo cũng ra làm quan mà ăn lương là một điều sĩ nhục’. (LN, XIV Hiến Vạn t.1). Khổng-tử bàn rằng: ÃChẩng khuất chí mình, chẳng nhục thân mình, chỉ có hai ông Bá Di và Thúc Tề (bang vô đạo đi ở ẩn) chớ ai?  Các ông Liễu Hạ Huệ, Thúc Liên (bang vô đạo vẫn ra làm quan), kém hơn, phải khuất chí mình, phải nhục thân mình. Tuy vậy lời nói của hai ông hợp với luân thường, nết cư xử của hai ông hợp với lòng mong nghĩ của dân, chỉ có hai điểm ầy là đáng khen mà thôi. Lời Khổng-tử chê Liễu Hạ Huệ nghe nhẹ nhàng, nhưng xét kỹ thì thật là nặng nề (chịu khuất chí, chịu nhục thân). Lời khen nghe tuy hoa mỹ mà xem ra ý thật chẳng thấy có gì  đáng kể.

Bang vô đạo giả ngu để khỏi ép ra làm quan.
Ninh Võ Tử, vua hữu đạo, tỏ ra có tài trí để ra làm quan; vua vô đạo làm ra vẻ ngu dại (để khỏi ra làm tay sai cho bạo quyền). Khổng-tử khen: ‘Cái trí của Ninh Võ Tử ai cũng làm được, còn cái ngu của ông không mấy ai theo kịp’ (LN, V Công Dã Tràng t.20)

  Bang vô đạo ở lại làm quan liều chết can vua.
Thời vua Trụ (1154-1122 tr.TL) một vua bạo ngược, ham mê tử sắc, Vi Tử bỏ đi, còn Cơ Tử và hoàng thân Tử Can vẫn ở lại làm quan, đem lời chính trực can vua, thì Vi Tử bị bắt giam và đày làm nô lệ, Tử Can chú của vua Trụ và là một tướng tài bị tội chết.

Lập trường của Khổng-tử đối với vấn đề xuất xử . Khổng-tử nói: ‘Về phần ta, ta khác với mấy ông (Bá Di, Thúc Tề, Liễu Hạ Huệ, Ninh Võ Tử) ấy, chẳng có việc gì mà ta quyết định phải làm, chẳng có việc gì mà ta quyết định phải bỏ’ (LN, XVIII Vi Tử t.8). Có nghĩa là đáng ra làm quan thì ra làm, không đáng ra làm quan thì bỏ đi, chớ không cố chấp. Về sau (200 năm sau) Mạnh-tử xưng tụng phong độ của Khổng-tử là phong độ của vị thánh có đức ‘thời trung’. Thời trung là là chấp trung cho hợp thời thế. Chấp trung là xử sự không thái quá, không bất cập, giữ cho có chừng mực, nhưng chấp trung mà không biết quyền biến (chẳng biết tùy nghi hành động cho hợp thời) thì như vậy cũng giống như chấp nhất, khư khư câu nệ một bề mà thôi. Người quân tử ra làm quan là để thi hành cái nghĩa lớn trung quân ái quốc mà thôi, chớ không phải để mưu cầu phú quí. Song nếu bang vô đạo mà ta vì muốn giữ cho trong sạch tấm thân, bỏ đi ở ẩn, thì lại trái đạo trọng hệ hơn hết trong ngũ luân là đạo vua tôi (?) (LN, XVIII Vi Tử t.7).

Nhưng theo Khổng-tử, không phải ra làm quan với bất cứ điều kiện nào. Tử Cống hỏi Khổng-tử : ‘Nếu có một hột ngọc tốt ở đây, nên bỏ dấu trong hộp hay đem ra bán?’ Khổng-tử đáp: ‘Nên bán đi! Nên bán đi! Nhưng ta còn đợi giá.’ (LN, IX Tử Hãn t.12). Vua nước Vệ mời Khổng-tử làm tham mưu giúp vua đánh giặc, thấy không đúng với chủ tâm của mình, ông bỏ liền bỏ đi ngay (LN, XV Vệ Linh Công t.1). Khổng-tử vừa làm quan nước Lỗ, thì vua nước Tề gửi tặng vua nước Lỗ một bọn nữ nhạc, vua Lỗ bỏ phế việc lâm triều ba ngày liền, Khổng-tử không vừa lòng, tìm cớ bỏ đi. (LN, XVIII Vi Tử t. 4).Vua Cảnh công nước Tề muốn mời Không-tử, nhưng tỏ vẻ do dự, ông cũng bỏ đi (LN, XVIII Vi Tử t.3).
đ- Chính danh – Chính trị. Tôn chỉ của chánh danh là muốn tạo ra một tiêu chuẩn cho mọi điều phải trái, lành dữ mà thôi. Đó là lý tưởng căn bản của học thuyết  của Khổng-tử. Sách Luận Ngữ kể lại rằng : ‘Tề Cảnh công hỏi Khổng-tử về chính trị. Khổng-tử nói: Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử’, Cảnh công nói : ‘Đúng thay! Vì vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con, tuy có lúa gạo, ta yên tâm mà ăn sao được!’ (LN, XII Nhan Uyên t. 11).

Trong phạm vi chính trị, người quân tử phải cư xử cho tròn đạo làm người trong mỗi cương vị của mình. Và chính trị của Khổng-tử là lo cho dân: ‘Gầy dựng cho dân thì dân sống tự lập. Dắt đường cho dân thì dân biết mà đi. Giúp dân yên ổn thì dân đến với mình. Cảm động lòng dân thì dân biết hòụa thuận. Như vậy, khi sống được dân tôn vinh, khi chết được dân thương tiếc.’ (LN, XIX Tử Trương t. 5). Và khi đã giúp cho dân giàu có rồi thì giáo hóa dân (LN, XIII Tử Lộ t.9).
Quí Khương Tử hỏi Khổng-tử: ÃTôi muốn ra lệnh giết mấy đứa độc ác, đặng cho bá tánh sợ mà ăn ở lương thiện. Ngài nghĩ có nên không?’ Khổng-tử đáp: ÃÔng muốn cai trị, cần chi phải dùng sự chém giết. Nếu tự ông muốn làm thiện, thì dân chúng sẽ trở nên thiện hết’. (LN, XIV Nhan Uyên t.18). Theo Khổng-tử, nếu nhà cầm quyền dùng pháp chế, cấm lệnh, mà dẫn dắt dân chúng, thì dân sợ mà không dám phạm pháp đó thôi, chớ chúng không biết xấu hổ ăn năn (vì thấy mình làm quấy). Vậy muốn dẫn dắt dân, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh. Muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết (ôn hòa, khiêm cung), thì chẳng những dân biết xấu hổ (ăn năn vì tội lỗi của mình) mà còn được cảm hóa để trở nên tốt lành nữaữ (LN, II Vi Chính t. 3).

2- VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

Khổng-tử tỏ ra hoài nghi, và thường từ chối không trả lời các câu hỏi về siêu hình. Có người hỏi về đạo thờ quỷ thần, ông đáp : “Đạo thờ người còn chưa biết, sao biết được đạo thờ quỷ thần”. Lại hỏi về sự chết, Khổng-tử đáp : “Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết !”(LN, XI Tiên Tấn t.11).

Ông không giảng luận về 4 vấn đề: quái dị, dũng lực, phản loạn, quỷ thần (LN,VII Thuật Nhi, t. 20). Ông cũng ít giảng về mạng Trời (LN, IX Tử Hãn, t.1), vì mạng Trời huyền ảo, giảng không cùng, nếu nói nhiều thì làm cho kẻ mới học bối rối. Nhưng khi Công Bá Liêu muốn hại học trò của ông là Tử Lộ, để phá việc giáo hóa của ông, Khổng-tử lên tiếng nói : Đạo ta nếu được lưu hành, ấy cũng do nơi mạng Trời, đạo ta nếu bị vong phế, ấy cũng do nơi mạng Trời. Công Bá Liêu làm sao cải được mạng Trời (LN, XIV Hiến Văn, t. 38). Theo Khổng-tử, người quân-tử có ba điều kính sợ : Kính sợ mạng Trời, kính sợ bực đại nhân tài đức, kính sợ lời dạy của Thánh hiền (LN, XVI Quí thị, t. 8). Chẳng hiểu được mạng Trời, chẳng đáng gọi là người quân-tử (LN, XX Nghiêu viết, t. 3).

Nhưng Khổng-tử không mê tín : ” Kẻ mắct tội với Trời, dầu cầu đảo với vị thần nào cũng không khỏi.” Đối với  quỷ thần, theo Khổng-tử, nên kính nhi viễn chi (kính nhưng nên xa lánh) (LN, III Bát Dật, t. 13). Khi ông mang bệnh nặng, Tử Lộ đề nghị làm lễ cầu đảo, Khổng-tử từ chối, bảo : Ta đây cầu đảo đã lâu rồiữ, ý nói ông trọn đời đạo đức, lúc nào cũng ăn năn điều lỗi, làm thêm điều lành, tức là đã cầu đảo rồi, bây giờ dầu không làm lễ cầu đảo thần minh cũng phù hộ. (LN, VII Thuật Nhi, t.34).

Trời đối với ông không còn là một thần linh nhân cách hóa, một vị Vua Trời, Thượng đế, mà chỉ là một Thiên hựu (Providence), một đấng thiêng liêng coi như rất khôn ngoan cai trị thế gian, mà các nhà Nho về sau coi như một Trời thiên thể điều hòa vũ trụ một cách gần như máy móc.

Thờ cúng tổ tiên.

Việc thờ cúng tổ tiên, là một hình thức đặc thù diễn tả tín ngưỡng có tính cách tôn giáo trong hệ thống xã hội và đạo lý mà Khổng-tử muốn cứu vãn. Dân gian tin rằng vong linh tổ tiên ơ ủmột thế giới của những người đã quá vãng, có thể có những liên hệ trong tinh thần đoàn kết với con cháu còn sống, từ thếâ hệ trước với các thế hệ sau. Khi thờ cúng, con cháu xem ông bà ỡnhư tạiữ nghĩa là như có mặt lúc đó. Xin lưu ý đến chữ ỡnhư ữ có nghĩa là không phải thế mà ỡgiống như thế ữ, không có mặt mà xem như là có mặt. Con cái thường vái trình lên ông bà những việc xảy ra trong gia đình, như vừa mới sinh con, có dâu rể mới, bệnh hoạn, vân vân… kể lể nỗi vui, buồn, than thở, nhớ thương như là có ông bà trước mặt. Có người ngồi hàng giờ trước bàn thờ để nhớ lại những các kỷ niệm xa xưa của ông cha. Tinh thần gia đình nhờ đó mà được duy trì từ thế hệ nầy đến thế hệ khác, nói rộng ra cũng duy trì  được tinh thần nòi giống, dân tộc.

Khổng-tử vốn không tin và xa lánh quỷ thần, không thích cầu đảo, nhưng tại sao Nho gia lại tự mình thăng hoa các vong linh tổ tiên để sùng bái. Và khi cúng tổ tiên thì Khổng-tử lại rất mực cung kính, dường như có tổ tiên hiện tại. Hồ Thích, tác giả Trung quốc Triết học sử, (bản dịch Huỳnh Minh Đức, nxb Xuân Thu, Glendale, CA, Hoa Kỳ, trang 175, 276) cho rằng :  Việc nầy đã làm cho trong lòng Nho gia có một nỗi khổ tâm. Tăng-tử đã giải thích vì sao Nho gia đã khuyến khích thờ cúng tổ tiên, như sau : Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hỹ nghĩa là Thận trọng trong việc cha mẹ qua đời (lâm chung)  truy cúng thờ tổ tiên xa xưa (viễn), thì dân mới cảm đức mà quay về đạo hiếu. Khổng-tử cũng nói rõ thêm: Quân tử đốc ư thân, tắc dân hưng ư nhânữ nghĩa là ỡNgười quân tử mà giữ được trọn bề với cha mẹ, thì dân chúng sẽ cảm động mà phát khởi lòng nhân.
Theo Nho giáo, thờ cúng tổ tiên là một phương tiện dẫn dắt dân đến đức Nhân, vào đường đạo đức gia đình và tinh thần quốc gia.

HÌNH  NHI  THƯƠNG

1- NHẤT  DĨ  QUÁN CHI

Như vừa thấy trên đây,  Khổng-tử thường nói  ‘Ngô thuật nhi bất tác’, ta chỉ thuật lại (những điều ta đã đọc, đã nghe) chớ không sáng tác. Ông còn nói rõ hơn :  ‘Ta tin tưởng và hâm mộ đạo của người xưa. Ta đem kinh sách thánh hiền mà truyền lại cho đời sau’  (LN, ch.7, Thuật nhi, t.1).
Từ xưa sơ khởi, dân Hoa, khi chưa áp đặt như là một lý tưởng, như một hệ thống, thì đã có thuyết Vạn vật nhất thể (Người và Trời đất chỉ là một thể). Khổng-tử đã bắt nguồn từ thuyết thực tại nhân sinh nhất thể ấy để khai triển đúc kết lại thành thuyết mệnh danh là Nhất dĩ quán chi nghĩa là lấy ‘Một mà xuyên qua Tất cả’.

Để tìm hiểu về thực tại nhân sinh, Khổng-tử bắt đầu bằng công việc ‘nội hiện’, đi sâu vào chính lòng mình. Sách Trung Dung đã nói rõ hơn :  ‘Duy có lòng thành thì mới biết rõ tính của mình. Biết được tính của mình, ắt biết rõ được bản tính của loài người. Biệt rõ bản tính của loài người, ắt biết được bản tính của vật. Biết được bản tính của vật, ắt có thể phụ họa với Trời Đất cho việc hóa dục chóng thành. Có thể phụ họa với Trời Đất cho việc hóa dục chóng thành, ắt có thể tham dự với Trối Đất’ (Trung Dung, th. 22).

Khổng-tử tuyên bố: ‘Đạo ta tóm lại trong mấy chữ Nhất dĩ quán chi (LN, IV Lý Nhân t. 15) Lấy Một mà quán (xuyên qua), đểu tìm ra cả hệ thống điều lý các sự vật, rồi dùng nó mà suy nghiệm, khiến cho ta nghe một mà biết được mười’.

Khổng-tử khuyến cáo: ‘Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông. Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta chẳng khai phát cho được. Kẻ nào chẳng biết đem ba bề để so sánh mà tìm ra bề thứ tư, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa’ (L.N., chg.8, Thuật Nhi, t. 8).

Tính cách thần bí trong Hình nhi thượng của Khổng giáo là ở điểm biết được bản tính của mình là biết được Trời Đất, là tham dự với Trời Đất. Đó  là một khẳng định có tính cách siêu hình, mà phần đông chúng ta cũng khó hiểu được, vì chỉ đó là một niềm tin không cần phải chứng minh.

2- KINH DICH

Thiên địa vạn vật không phải được cấu thành rồi không biến đổi, mà là đang biến đổi từng phút từng giây. Như vậy là có động và biến hóa. Vì sao mà có động ? Vì giữa ỡ trời đất  có hai nguyên động lực : một là cương tính gọi là dương, một là nhu tính gọi là âm.

Hai nguyên lực nầy xung đột lẫn nhau, xô đẩy lẫn nhau vì thế sinh ra mọi sự chuyển động, mọi việc biến hóa. Trong Kinh Dịch dùng dấu một gạch liền ––  để thế cho Dương và một gạch đứt     – –   thế cho Âm. Âm chỉ đất, đàn bà, ác, rủi ro, mùa đông, lạnh…và dương chỉ trời, đàn ông, mùa hè, nóng.

Âm và dương tuy trái nghịch nhau, nhưng phải bổ túc cho nhau, như trời với đất, đàn ông với đàn bà, thiện với ác, đúng, sai… Lý tưởng của nhà hiền triết là tìm cách cách phối hợp âm dương cho điều hòa. Người ta nếu chỉ có dương hay chỉ có âm mà thôi là những quái vật. Trong âm phải có một phần dương (thiếu âm), và trong dương phải có một ít âm (thiếu âm) như thế mới quân bình. Cho nên  Kinh Dịch  giúp cho ta thực hiện lý tưởng ấy.

 Dương tượng trưng bằng một gạch liền    –––            :     Đúng
Âm tượng trưng bằng một gạch đứt          – –             :     Sai


Nếu ghép một hào (gạch) dương với một hào (gạch) âm với nhau, ta sẽ có 4 cặp âm dương:

Nếu ta dùng hệ đếm nhị phân (numération binaire), 0 là âm, 1 là dương, thành lập số hệ khởi điểm từ T’ai Ki (Thái cực) thì cũng sẽ có được tám quẻ (giống như trên đây) :

Nếu đem một quẻ tam hào nầy ghép chồng lên một quẻ tam hào khác, sẽ có 8 x 8 = 64 quẻ lục hào hay hexagrammes (xem bản đồ thị dưới đây) :

[Ngày nay, chính toán học gia Đức là Leibniz đã phỏng theo những quẻ lục hào của Kinh Dịch để trình bày hệ đếm nhị phân (numération binaire) của ông, một phát kiến khiến ông được mệnh danh là ‘ông tổ của máy điện toán’. (Tan Xiaochun et LI Dianzhong, Le Yiking en dessins, Ed. You Feng, Hong Kong 1994, trang 40)]

Vì Trời Đất, vạn vật và Người liên hệ mật thiết theo thuyết ‘Nhất dĩ quán chi’, vạn vật chuyển động biến hóa không ngừng theo những chu kỳ, hết xuân, đến hạ, thu, đông, rối trở về xuân, con người cũng vậy, hết ỡcơn bỉ cực đến kỳ thái laiữ. Trong Kinh Dịch 64 quẻ lục hào trên đây tượng trưng cho 64 trường hợp khác nhau trong quá trình diễn tiến trong một chu kỳ, tương đương với 64 hoàn cảnh điển hình (situation architype). Những quẻ lục hào giúp cho ta biết được thực tại mà chúng ta đang hiện hữu, hàng động và sống. Đó là những chỗ tập hợp những nhịp điệu của vũ trụ trong đó mỗi hiện tượng rung cảm của vũ trụ liên hệ với những hiện tượng sinh hoạt của con Người, và ngược lại.

Kinh Dịch nói về các điều tổng quát của cuộc sống của mọi người bằng những quẻ lụcN hào, mỗi quẻ là một ví dụ trưng ra một vài hoàn cảnh cụ thể nhất định trong cuộc đời của các nhân vật lịch sử, của các thú vật (vua, quan, kẻ sĩ, thương nhân, binh lính, đạo tặc, con rồng, chim đại bàng…) giống như hoàn cảnh của ta hiện đang sống (Đó là phần gọi là Từ ), rồi Khổng-tử bàn luận, đưa ra những lời khuyên răn ở trường hợp nầy cần phải hành động, úng xử thế nào để thành công (Đó là phần gọi là Truyện, gồm có 10 thiên hay thập dực).

Như vậy, ‘bói’ Kinh Dịch không phải là bói xem mình có phát tài, hay bị tai nạn… trong tương lai, mà chỉ hỏi Trời Đất hiện nay ta đang ở vào tình cảnh nào để tìm xem Kinh Dịch khuyên ta phải làm gì ? Như ta bói ra quẻ số 17 (Trạch Lôi Tùy) thì phía trên là Đoài (Trạch là đầm nước)  dưới là Chấn (Sấm sét), Tùy (Tùy theo).

Từ : Hoàn cảnh Chấn là con trai, Đoài là con gái, gặp nhau, yêu nhau, theo nhau (tùy) ; tượng trưng bằng hình ảnh sấm sét nổ ra ở dưới đầm nước thì nước bị xao động theo (tùy). Truyện : Trai gái tùy theo nhau, yêu nhau, là lẽ thường, nhưng đừng tùy theo điều bất chính.. Người ở hoàn cảnh nầy phải thận trọng, suy xét trước khi tùy theo nhau, đừng để tình cảm làm cho mù quáng.

Thế thôi, Kinh Dịch chỉ đưa ra lời khuyên. Nghe theo hay không là việc của ta. Nếu biết nghe, thì việc sẽ thành. Không nghe, thì bị thất bại. Kinh Dịch tôn trọng quyền tự do quyết định của ta.

Mặt khác, Khổng-tử cho rằng Kinh Dịch phản ảnh được cuộc sống con Người. Thường xuyên tìm hiểu các lời khuyên trong Kinh Dịch giúp ta đạt đến Đạo của Thánh hiền. Khổng-tử đã đúc kết lại trong quẻ đầu tiên số 1 của Kinh Dịch, (Bát Thuần Càn, gồm có sáu hào dương), tượng trưng cho cuộc đời của kẻ sĩ..

 Ở mỗi hào, kẻ sĩ được tượng trưng bằng một con rồng ở vào 4 giai đoạn đặc biệt (tiềm long, hiện long, phi long, kháng long) trong quá trình tiến thân của mình, tóm tắt như sau:

– Tiềm long (rồng còn tàng ẩn: hào tức là gạch thứ nhất, theo thứ tự từ dưới lên trên) cũng như kẻ sĩ chưa gặp thời hay mới ra đời, sức mỏng, thế cô, cho nên phải trầm tiềm hàm dưỡng, chờ đợi thời cơ, không nên vội ra gánh vác việc đời..

– Hiện long tại điền (rồng từ vực sâu, mới hiện lên mặt ruộng: hào thứ nhì) cũng như kẻ sĩ đã thoát khỏi tình trạng tiềm tàng, bắt đầu xuất hiện, có thể hoạt động được, nhưng cũng phải chung sức với một ‘đại nhân’ cương trực trung chính như mình thì hoạt động mới thành công. Giai đoạn nầy  bao gồm hai hào 3 và 4, thánh nhân dặn rằng rồng lúc nầy cũng như người quân tử tuy đã xuất hiện, song đang ở vào địa vị khó xử. Vì mới xuất hiện, bản lĩnh chưa thật giỏi, thành ra bị ‘dưới kéo, trên dằng’, cần phải rất cẩn thận, lo lắng ngày đêm, phải biết tùy thời để nhảy lên, tiến tới cho đúng lúc, đừng để sơ hở điều gì…, thì mới khỏi bị hại.

– Phi long tại thiên (rồng bay lên trời, hào thứ 5) cũng như kẻ sĩ đã lập được sự nghiệp hiển hách, nhưng phải cùng với một người ‘hiền tài’ cương trực trung chính mà hoạt động chung mới thành công được, (hai rồng ở hào 2 và hào 5, theo Nho gia, có thể ví như một cặp ‘minh quân, lương tể’ (vua sáng suốt, tể tướng giỏi) trời cho gặp gỡ nhau để chung sức trị quốc an dân: minh quân trị vì (régner), lương tể điều khiển (gouverner) cai quản điều hành: một phát kiến của Đổng Trọng Thư vào đời Hán, có thể nói phần nào giống như thể chế Tổng Thống, Thủ Tướng ngày nay chăng?

– Kháng long hữu hối (rồng bay đến tột đỉnh cao quá mức, ắt có điều phải hối hận: hào thứ 6, trên cao cuối cùng quẻ), cũng như kẻ sĩ sự nghiệp tột đỉnh, nhưng vì không hiểu thấu được lẽ biến thông  ‘cùng thời biến, đầy thời nghiêng’, hống hách, khắc nghiệt, không biết giữ lối cư xử khiêm nhường, nên sẽ bị họa và sẽ có điều phải hối tiếc.

Sáu mươi bốn quẻ Kinh Dịch, mỗi quẻ chỉ có sáu hào (gạch). Hai quẻ Bát thuần Càn (số 1 trong bản 64 quẻ lục hào trên đây : gồm có 6 hào dương) và Bát thuần Khôn (số 2 trong bản 64 quẻ lục hào trên đây: gồm có 6 hào âm) cũng vậy. Nhưng đạo Dịch không bao giờ cùng, mà ‘cùng thì tất biến’ để cho thông cái cùng. Càn cùng cực biến thành Khôn ; Khôn cùng cực biến thành Càn.

Vì vậy thánh nhân giả thiết thêm hai hào nữa là Dụng Cửu và Dụng Lục. Ở quẻ Bát thuần Càn (6 hào dương), dương cực phải biến thành Dụng Cửu, quần long vô thủ (bầy rồng không có đầu) Khổng-tử bàn : Dụng cửu là hào chỉ về ‘đại đồng’, mọi rồng ngang nhau, tốt ! Ở quẻ Bát thuần Khôn (6 hào âm), âm cực biến thành Dụng Lục chỉ về  ‘lợi vĩnh trinh’ (lợi : tốt ; vĩnh : lâu dài ; trinh : chính trực) ý nói một người nhu nhược bị dồn ép quá mức sẽ vùng lên thành cương cường, cũng tốt vậy !

[Như đã qui định : mặt sấp (pile) của đồng tiền là số 2, mặt ngữa (face) số 3. Mỗi lần gieo 3 đồng tiền, nếu 3 mặt đều ngữa cả thì ta có 3+3+3= 9 tức là Cửu  chỉ Dương cao độ nhất (Dụng Cửu). Nếu 3 mặt đều sấp cả thì ta có 2+2+2=6 tức là Lục, chỉ Âm cao số nhất (Dụng Lục) ]

Tóm lại, thời Xuân Thu xã hội loạn ly, đạo lý suy đồi, Khổng-tử là người đề cao đức Nhân, làm nến tảng cho cả một ý thức hệ nhân bản của dân Hoa trong suốt mấy ngàn năm. Song thực hiện Nhân phải dùng Lễ để tiết chế bản thân cho ôn hòa, khiêm cung đối với kẻ khác, và dùng Trí để ứng xử cho công bình, tất cả trong trung dung (chừng mục) và tùy thời mà quyền biến đừng câu chấp việc nhỏ để làm hỏng việc lớn.

Từ thuyết vạn vật nhất thể của người xưa, Khổng-tử xây dựng thuyết Nhất dĩ quán chi, tìm hiểu bản thân ‘nội hiện’ để hiểu kẻ khác, và vạn vật, cuối cùng hiểu Trời rồi cùng Trời tham dự việc sinh hóa mọi vật. Nếu học thuyết của Lão-tử nhấn mạnh trên tính cách thần bí của thực tại, thì Khổng-tử nhấn mạnh trên tính cách hiện sinh của thần bí.

Trong xã hội, Khổng-tử đề xuất quan niệm một người mẫu quân tử nhân cách cao thượng, trọn được phần nào chữ Nhân, mà kẻ sĩ phải cố gắng noi theo. Người quân tử phải cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm, để tu thân. Và có tu thân thì mới tề gia, rồi trị quốc, bình thiên hạ, theo’chánh danh’ mà minh đức, tân dân, chỉ ư chí thiện (làm sáng tỏ đạo đức, làm cho dân tân tiến, đạt đến chí thiện).  Khổng-tử chú trọng đến việc giáo hóa. Ông thực hiện giáo dục tư thục, bình dân, không phân biệt giàu nghèo, kẻ áo vải nhờ học vấn mà có thể trở nên khanh tướng. Học không phải chỉ thuộc lòng mà cốt tìm hiểu thế nào, cách thế nào ? Học phải suy luận và phải thực hành.

Khổng-tử chủ trương cải cách để giúp nhà Chu bị suy vi, và đề cao giá trị con người, đạo lý nhân bản, gợi nhiều ý mới có tính cách trực cảm, mà hai trăm năm sau Mạnh-tử sẽ quảng diễn sâu rộng, cụ thể hơn để đòi hỏi quyền lợi cá nhân của con người, trong tinh thần bình đẳng. Khổng-tử tôn quân (nhà Chu) thì Mạnh-tử sẽ chủ trương ỡ dân vi quí, quân vi khinh ữ và ‘cách mạng Thang Võ’, theo danh từ mà sử gia Tư-Mã Thiên đã dùng. 

Published in: on January 27, 2007 at 3:36 am  Leave a Comment  

The URI to TrackBack this entry is: https://nthung.wordpress.com/2007/01/27/nho-giao/trackback/

RSS feed for comments on this post.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: